(CAO) Kéo dài 4 năm, 8 tháng, trải qua 201 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, Hội nghị Paris là Hội nghị dài nhất trong lịch sử ngoại giao thế giới với đỉnh cao là việc ký kết Hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam ngày 27/1/1973.

Hội nghị Paris được đánh giá là cuộc đấu trí tuệ, bản lĩnh quyết liệt giữa nền ngoại giao non trẻ với nền ngoại giao lão luyện của một siêu cường hàng đầu thế giới.

Hội nghị Paris và Hiệp định Paris mãi mãi là trang sử vàng chói lọi, phát huy cao độ nghệ thuật ngoại giao Việt Nam kết tinh từ lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, để lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau những bài học vô giá.

Nâng đấu tranh ngoại giao thành mặt trận ngoại giao

Từ năm 1965, cùng với việc đưa quân trực tiếp xâm lược miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc, đế quốc Mỹ đã tiến hành nhiều cuộc vận động ngoại giao với danh nghĩa để giải quyết vấn đề Việt Nam nhưng thực chất là đòi Việt Nam thương lượng, không điều kiện.

Trước tình hình đó, Đảng ta đã khẳng định quyết tâm của nhân dân Việt Nam chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược, phản bác các luận điệu hòa bình giả hiệu của nhà cầm quyền Mỹ đòi Việt Nam thương lượng vô điều kiện, đồng thời đã trù tính đến cục diện vừa đánh vừa đàm.

Nghị quyết hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp lần thứ 13 tháng 1/1967 đã chỉ rõ: đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở Việt Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường, qua đó nâng đấu tranh ngoại giao thành mặt trận ngoại giao phối hợp với mặt trận chính trị và mặt trận quân sự có giá trị như một bản cương lĩnh đấu tranh ngoại giao của Đảng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Cuộc đấu tranh ngoại giao dai dẳng nhất, cam go nhất

Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân năm 1968, Hội nghị Paris chính thức diễn ra, đánh dấu cuộc đọ sức trên mặt trận ngoại giao, tạo cục diện "vừa đánh vừa đàm."

Khác với Hội nghị quốc tế Geneva về Đông Dương năm 1954, Hội nghị Paris là một cuộc đàm phán tay đôi do Việt Nam thắng lớn và chủ động đề xướng. Còn Mỹ, bị thất bại nặng nề buộc không thể không chấp nhận thương lượng để tìm một lối thoát danh dự.

Mỹ phải coi Việt Nam dân chủ cộng hoà là một bên đối thoại trực tiếp và bình đẳng để giải quyết mọi vấn đề của cuộc chiến tranh Việt Nam. Cuộc đàm phán Paris mở ra cục diện “vừa đánh, vừa đàm,” phản ánh một giai đoạn chiến đấu cực kỳ gay go, quyết liệt giữa Việt Nam và Mỹ.

Ngày 28/12/1967, Bộ Chính trị họp phiên đặc biệt, thông qua Kế hoạch chiến lược năm 1968 chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định, và chủ trương mở đợt Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. (Ảnh: TTXVN)

Đây cũng là đỉnh cao của sự kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng cả 3 mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao; giữa cuộc chiến đấu của quân và dân Việt Nam trên chiến trường với cuộc đấu tranh trên bàn đàm phán và trên trường quốc tế.

Ngày 13/5/1968, Hội nghị Paris về Việt Nam chính thức khai mạc. Khác với Hội nghị Geneva năm 1954, khi đó ta "đánh rồi mới đàm," lần này ta vừa đánh vừa trực tiếp đàm phán với đối phương.

Trong giai đoạn 1 của Hội nghị (từ ngày 13/5 đến 31/10/1968), mục tiêu của ta là đòi Mỹ chấm dứt ném bom vô điều kiện miền Bắc. Giai đoạn này, đàm phán diễn ra gần như đồng thời với đợt hai và ba của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Hai mặt trận đánh-đàm đã có sự phối hợp, hỗ trợ cho nhau nhưng tác dụng trực tiếp còn ít vì trên bàn thương lượng, Mỹ chưa đi vào đàm phán thực chất, chưa "ngả bài" hoàn toàn. Ta chủ yếu đấu tranh để kéo Mỹ xuống thang từng bước

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, ngày 27/1/1973, tại Trung tâm Hội nghị quốc tế ở thủ đô Paris (Pháp). (Ảnh: Văn Lượng/TTXVN)Ngày 23/1/1973, Cố vấn đặc biệt của Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Lê Đức Thọ và Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Henry Kissinger đặt bút ký tắt, phê chuẩn bản Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, tại Paris (Pháp). (Ảnh: Tư liệu quốc tế/TTXVN phát)Bộ trưởng Xuân Thuỷ bắt tay Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Henry Kissinger sau buổi họp báo về ký tắt Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, tại Trung tâm Hội nghị quốc tế ở Paris (Pháp), ngày 23/1/1973. (Ảnh: Tư liệu quốc tế/TTXVN phát)Cố vấn đặc biệt của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Lê Đức Thọ và Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Henry Kissinger bắt tay nhau sau lễ ký tắt Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, tại Paris, ngày 23/1/1973. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Sau khi Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc hoàn toàn, giai đoạn 2 bắt đầu từ 25/1/1969 khi mở ra đàm phán 4 bên, các cuộc gặp riêng Lê Đức Thọ-H.Kissinger và đi đến ký Hiệp định Paris về Việt Nam.

Càng về cuối cục diện "vừa đánh vừa đàm" càng được phát huy cao độ. Đỉnh cao trong việc vận dụng thành công nghệ thuật này được thể hiện ở thời điểm tháng 3/1972 khi Mỹ đơn phương ngừng không thời hạn Hội nghị Paris, ném bom trở lại miền Bắc. Trung ương Đảng vẫn chủ trương duy trì Hội nghị Paris với mục tiêu làm diễn đàn tuyên truyền để tranh thủ dư luận quốc tế và kết hợp với chiến trường để đấu tranh với Mỹ về mặt ngoại giao.

Quán triệt chỉ đạo này, phái đoàn ta tại Paris đã đấu tranh, đòi Mỹ phải nối lại đàm phán theo hướng giải quyết toàn bộ về vấn đề chiến tranh Việt Nam.

Từ giữa năm 1972, chính quyền Mỹ ráo riết thực hiện chính sách ngoại giao con thoi, tìm mọi cách để cô lập Việt Nam, thực hiện đàm phán với ta trên thế mạnh, ép chúng ta nhượng bộ và chấp nhận những đòi hỏi phi lý.

Thậm chí, để phá thế bế tắc, từ ngày 18/12 đến 30/12/1972, Mỹ sử dụng máy bay B-52 ném 10 vạn tấn bom xuống các tỉnh miền Bắc. Nhưng bằng ý chí kiên cường, quân và dân ta đã làm nên Chiến thắng lịch sử "Điện Biên Phủ trên không."

"Hiệp định Paris là văn bản pháp lý toàn diện, đầy đủ nhất công nhận các quyền cơ bản của dân tộc ta, trong đó Mỹ buộc phải cam kết “tôn trọng độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.”

Đây là đòn quyết định buộc Mỹ phải ngừng ném bom phía Bắc vĩ tuyến 20, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Paris. Theo nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên, điều quyết định vẫn là trên chiến trường, chiến trường có thắng được chúng ta mới có thể đưa ra những yêu cầu cao đối với Mỹ, mới yêu cầu Mỹ rút quân và quân đội ta vẫn ở lại miền Nam. Nếu chúng ta thất bại trên chiến trường thì phía Mỹ không bao giờ chấp nhận các điều kiện của ta.

Do đó đối thoại ở Paris là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bàn Hội nghị và chiến trường. Việc chủ động bước vào cục diện "vừa đánh, vừa đàm" thực sự là một sáng tạo lớn của Đảng ta, thể hiện sự độc lập tự chủ về đường lối. Đây cũng là bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu đối với chúng ta.

Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký tắt ngày 13/1/1973. Ngày 27/1/1973 lễ ký chính thức đã diễn ra tại Trung tâm các Hội nghị quốc tế Clêbe (Paris).

Theo ông Nguyễn Dy Niên, sau khi ký tắt Hiệp định Paris, Kissinger gấp hết giấy tờ và hỏi ông Lê Đức Thọ: tôi xin hỏi ông một câu, ông trả lời cho tôi có hay không quân đội miền Bắc còn ở miền Nam Việt Nam. Ông Lê Đức Thọ nhắc lại: Đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một nên ở đâu trên lãnh thổ chúng tôi có quân xâm lược thì người Việt Nam có quyền đến đấy để bảo vệ Tổ quốc của mình.

Hội nghị Paris là bức tranh hùng hồn nhất của cuộc đụng đầu lịch sử giữa một bên là lực lượng cách mạng nhất với một bên là thế lực hiếu chiến, tàn bạo nhất và Hiệp định Paris là “huyền thoại của thế kỷ XX

Để có được một Hội nghị Paris khai cuộc ngày 13/5/1968 đã là khó khăn không hề nhỏ, nhưng để có một Hội nghị Paris kết thúc với kết quả đúng như phía ta mong muốn lại còn khó khăn gấp bội. Thậm chí, nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam, có lẽ chưa có cuộc đàm phán nào kéo dài và cam go như Hội nghị Paris: tới 4 năm, 8 tháng, với vô vàn những giằng co, đấu trí, đấu lý căng thẳng, quyết liệt, kiên trì, bền bỉ đeo đuổi nhau từng chút một giữa ta và Mỹ.

Khi nhìn lại cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, nhiều nhà bình luận quốc tế đánh giá Hội nghị Paris là bức tranh hùng hồn nhất của cuộc đụng đầu lịch sử giữa một bên là lực lượng cách mạng nhất với một bên là thế lực hiếu chiến, tàn bạo nhất và Hiệp định Paris là “huyền thoại của thế kỷ XX”.

Hiệp định Paris có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước của dân tộc ta. Hiệp định là văn bản pháp lý toàn diện, đầy đủ nhất công nhận các quyền cơ bản của dân tộc ta, trong đó Mỹ buộc phải cam kết “tôn trọng độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.”

Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào nỗ lực tạo nên bước chuyển chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, từng bước buộc Mỹ phải đi vào giải pháp, chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, hoàn thành mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút.”

Ngày 29/3/1973, những người lính Mỹ cuối cùng lên máy bay tại sân bay Đà Nẵng để rút khỏi Việt Nam dưới sự giám sát của Tổ Quốc tế và Tổ Liên hợp quân sự bốn bên. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Với việc buộc Mỹ phải rút hết trong khi ta duy trì được hoàn toàn lực lượng, Hiệp định mở ra một cục diện mới, so sánh lực lượng trên chiến trường nghiêng hẳn về ta để tiến lên “đánh cho ngụy nhào.”

Hiệp định Paris còn góp phần ngăn chặn mọi âm mưu can thiệp trở lại của Mỹ khi toàn quân, toàn dân ta tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Những bài học quý

Hội nghị Paris và Hiệp định Paris về Việt Nam mãi mãi là trang sử vàng chói lọi, thể hiện cao độ bản lĩnh, tinh thần, trí tuệ của con người và nền văn hóa Việt Nam được kết tinh từ lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, để lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau những bài học vô giá.

Trước hết,

là bài học về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta mở ra mặt trận ngoại giao, phát huy thế mạnh của ngoại giao, phối hợp với các mặt trận chính trị, quân sự; lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất các mặt trận, “vừa đánh, vừa đàm,” tạo ra sức mạnh tổng hợp, giành toàn thắng.

Thứ hai,

là bài học về kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia dân tộc; vận dụng đúng đắn phương châm ngoại giao Hồ Chí Minh “dĩ bất biến, ứng vạn biến,” tạo thời cơ, kéo địch vào đàm phán, chủ động tấn công ngoại giao và kết thúc đàm phán khi điều kiện chín muồi; xử lý hài hòa quan hệ với các nước lớn, đồng thời tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế rộng rãi đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta để làm nên thắng lợi của Hội nghị Paris.

Thứ ba,

là bài học về tầm quan trọng của thực lực. Bác Hồ dạy: “Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng. Cái chiêng có to, tiếng mới lớn”.

Thắng lợi của Hội nghị Paris bắt nguồn từ những thắng lợi trên chiến trường, từ sự lớn mạnh không ngừng về thế và lực của ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đó là sức mạnh của chính nghĩa, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế; sức mạnh từ sự kết hợp tài tình giữa các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao; giữa đánh và đàm, giữa chiến trường và bàn đàm phán.

Thứ tư,

là bài học về đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Để vượt qua những thách thức lớn, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là phương cách cực kỳ quan trọng, bảo đảm thắng lợi.

Cuộc chiến đấu vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta thắng lợi vì đã phát huy được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, thực hiện đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công.”

Thứ năm,

là bài học về xây dựng lực lượng. Từ Hội nghị Geneva năm 1954 đến Hội nghị Paris, đội ngũ cán bộ ngoại giao đã trưởng thành vượt bậc, được chuẩn bị và trang bị kỹ cả về kiến thức đối ngoại và nghệ thuật đàm phán. Cùng với sự chỉ đạo sát sao, Đảng và Nhà nước ta đã chọn lựa, tin tưởng giao trách nhiệm cho những cán bộ đối ngoại bản lĩnh nhất, xuất sắc nhất tham gia hai đoàn đàm phán, góp phần rất quan trọng làm nên thắng lợi của Hội nghị Paris.

Đến nay, những bài học về ý chí bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc và tinh thần đoàn kết quốc tế trên bàn đàm phán Hiệp định Paris năm nào vẫn còn nguyên giá trị thời sự, luôn được các thế hệ sau tiếp nối, phát huy, chắt lọc và hình thành tư tưởng ngoại giao hòa bình, hữu nghị trong điều kiện mới.

Hiệp định Paris còn góp phần ngăn chặn mọi âm mưu can thiệp trở lại của Mỹ khi toàn quân, toàn dân ta tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Trong ảnh: Xe tăng Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập, trưa 30/4/1975. (Ảnh: Trần Mai Hưởng/TTXVN)

50 năm đã trôi qua kể từ khi Hiệp định Paris được ký kết, cục diện thế giới đã có nhiều thay đổi. Dân tộc ta đã tiến những bước dài trên con đường độc lập, thống nhất và xây dựng đất nước phồn vinh, bảo vệ vững chắc giang sơn gấm vóc của ông cha. Từ đổ nát của cuộc chiến tranh khốc liệt nhất, tàn bạo nhất trong lịch sử dân tộc, chúng ta đã quật cường đứng dậy, từng bước dựng xây đất nước "hơn mười lần" như Di chúc của Bác Hồ kính yêu và ước vọng ngàn đời của biết bao thế hệ người Việt Nam.

Thế và lực của đất nước đã đổi thay. Việt Nam đã phá bỏ bao vây cấm vận, mở cửa hội nhập vào khu vực và thế giới, là bạn và đối tác tin cậy của cộng đồng quốc tế, là thành viên có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ASEM, WTO...

Đại hội XIII của Đảng xác định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại.” Đây là nguyên tắc “bất biến,” là đường lối đối ngoại nhất quán của Đảng.

Nhưng các nội hàm cụ thể luôn được bổ sung, phát triển để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới và khu vực. Đại hội XIII nhấn mạnh, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả.

Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng đã và đang đặt ra những thách thức lớn, không chỉ riêng với nước ta về tính độc lập, tự chủ trong quan hệ quốc tế. Nhưng nhờ kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và có nhiều chính sách phù hợp, khôn khéo theo tinh thần “vạn biến,” Đảng và Nhà nước ta đã bảo vệ được lợi ích quốc gia, dân tộc trong những thời điểm hết sức khó khăn, phức tạp.

Trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đối ngoại phải tiếp tục là mặt trận quan trọng góp phần xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc, tiếp tục quán triệt, triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng.

Ôn lại các ý nghĩa trọng đại và bài học sâu sắc của hội nghị Paris, chúng ta thêm vững tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, phát huy tinh thần hội nghị Paris, vận dụng sáng tạo các bài học của hội nghị, công tác đối ngoại nhất định sẽ tiếp tục đạt được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa; ghi tiếp các mốc son mới trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Bài đọc nhiều